Hồi mới vào nghề, mình theo đoàn đi khảo sát một bãi chôn lấp ở ven thành phố. Người nhặt ve chai đi trước xe ủi, lượm từng chai nhựa, từng mẩu nhôm. Lúc ấy mình chỉ thấy đó là chuyện mưu sinh.
Bây giờ nhìn lại, mình nghĩ họ đã làm kinh tế tuần hoàn trước khi khái niệm đó có tên.
Bài này ghi lại suy nghĩ của mình về kinh tế tuần hoàn và việc làm xanh, và những nghề đang dần thành hình quanh nó.
Đường thẳng và vòng tròn
Mô hình quen thuộc là đường thẳng: khai thác, sản xuất, dùng, vứt.
Kinh tế tuần hoàn (circular economy) cố bẻ đường thẳng đó thành vòng tròn. Giữ vật liệu trong vòng sử dụng càng lâu càng tốt, bằng cách tái sử dụng, sửa chữa, tái chế, tái sản xuất.
Việc làm xanh (green jobs) là những công việc góp phần bảo vệ hoặc phục hồi môi trường. Không phải mọi việc làm xanh đều thuộc kinh tế tuần hoàn, nhưng hai thứ chồng lên nhau khá nhiều.
Câu mình hay nhắc lại với sinh viên: trong kinh tế tuần hoàn không có rác, chỉ có tài nguyên đang nằm sai chỗ. Nghe hơi khẩu hiệu, nhưng nó đổi cách mình nhìn một dòng thải.
Vì sao nó tạo ra việc làm
Mỗi lần bẻ một đoạn đường thẳng thành vòng, lại sinh ra một khâu mới. Và khâu mới thì cần người.
Một sản phẩm muốn tái chế được thì phải thiết kế để dễ tháo rời ngay từ đầu. Thế là cần người hiểu cả thiết kế lẫn môi trường.
Rác muốn quay lại thành nguyên liệu thì phải được thu gom, phân loại, làm sạch, chuyển đến đúng nhà máy. Thế là cần người điều phối chuỗi đó.
Rồi đến quy định về trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất. Doanh nghiệp phải tính chuyện thu hồi và xử lý sản phẩm sau khi người tiêu dùng dùng xong. Khâu hậu tiêu dùng, trước đây ít ai để tâm, giờ thành một mảng việc riêng.
Những nghề đang hình thành
Mình liệt kê theo những gì mình thấy trên thực tế và qua các dự án quen biết, không phải danh sách đầy đủ.
Quản lý chất thải và tái chế
Người tối ưu việc thu gom, phân loại, tái sử dụng vật liệu trong nhà máy hoặc cho một khu vực.
Đây là mảng gần với dân môi trường nhất. Nhiều người làm quản lý chất thải rắn lâu năm chuyển sang khá tự nhiên.
Thiết kế sản phẩm bền vững
Nhà thiết kế làm sản phẩm dễ sửa, dễ tháo, dễ tái chế từ khâu ý tưởng.
Mảng này cần nền thiết kế hoặc kỹ thuật vật liệu. Người môi trường thường đóng vai cố vấn hơn là người vẽ.
Phân tích vòng đời sản phẩm
Gọi tắt là LCA (life cycle assessment). Đánh giá tác động môi trường của một sản phẩm suốt chuỗi, từ khai thác nguyên liệu tới khi bị thải bỏ.
Công việc nặng về dữ liệu và phần mềm chuyên dụng. Mình thấy đây là mảng người môi trường có nền khoa học vào khá thuận.
Chuỗi cung ứng xanh
Điều phối viên kết nối nhà sản xuất với nguồn vật liệu tái chế, kiểm soát nguồn gốc nguyên liệu, làm việc với nhà cung cấp.
Mảng này đòi hỏi hiểu kinh doanh và logistics không kém hiểu môi trường.
Muốn xem những nghề này đứng đâu so với các nghề môi trường truyền thống như xử lý nước thải, quan trắc, tư vấn, có thể đọc bài tổng quan ngành môi trường và xử lý chất thải mình viết trước. Mình tiếp tục với chuyện học gì.
Người làm môi trường cần thêm gì
Lợi thế của dân môi trường là hiểu bản chất tác động. Biết một dòng thải độc ở đâu, nặng nhẹ thế nào.
Nhưng việc làm xanh hầu hết mang tính liên ngành. Chỉ có nền môi trường thì thường chưa đủ.
Theo mình, nên bổ sung ít nhất một trong ba thứ: hiểu biết về vật liệu, về thiết kế, hoặc về kinh doanh và chuỗi cung ứng.
Tìm hiểu phương pháp đánh giá vòng đời sản phẩm. Đó là công cụ nền của cả lĩnh vực.
Theo dõi chính sách về giảm rác thải nhựa và trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất. Chính sách đi đến đâu, nhu cầu nhân lực đi theo đến đó.
Kỹ năng phân tích dữ liệu và tư duy hệ thống cũng giúp nhiều. Kinh tế tuần hoàn về bản chất là nhìn cả vòng chứ không nhìn một khâu.
Một ví dụ nhỏ trong nhà máy
Khái niệm nghe to tát, nên mình kể một ví dụ gần.
Ở một xưởng cơ khí mình từng tư vấn, mỗi tháng có khá nhiều giẻ lau dính dầu và dầu thải từ máy gia công. Trước đó, tất cả được gom lại, giao cho đơn vị xử lý chất thải nguy hại. Tốn chi phí, và cũng chỉ là đẩy vấn đề đi chỗ khác.
Nhóm của mình bắt đầu bằng việc cân và ghi lại lượng từng loại theo tuần. Chỉ riêng việc cân đã cho thấy một nửa số giẻ đến từ một khu vực, nơi máy bị rò dầu từ lâu mà không ai sửa.
Sửa rò rỉ xong, lượng giẻ giảm hẳn. Phần dầu thải thì tách nước, lọc cặn, một phần được thu hồi qua đơn vị có chức năng tái chế dầu. Giẻ lau chuyển sang loại giặt được, thuê dịch vụ giặt công nghiệp theo đúng quy định về chất thải nguy hại.
Không có công nghệ nào cao siêu. Chỉ là nhìn dòng thải như một thứ có thể đo, có thể giảm, có thể quay vòng.
Những việc như vậy cần người biết phân loại chất thải theo quy định, biết tính chi phí, biết nói chuyện với quản đốc xưởng. Đó chính là kiểu việc làm xanh mà mình nghĩ sẽ nhiều lên, chứ không chỉ những chức danh nghe hiện đại.
Một điều mình học được từ dự án đó: số liệu đơn giản, ghi chép đều đặn, có sức thuyết phục hơn mọi bản trình bày. Khi giám đốc xưởng nhìn bảng cân giẻ theo tuần, ông ấy tự đồng ý sửa máy mà mình không cần nói nhiều.
Ở Việt Nam thì sao
Mình thấy vẫn đang ở giai đoạn hình thành.
Một số doanh nghiệp, chủ yếu là doanh nghiệp xuất khẩu và doanh nghiệp có vốn ngoại, bắt đầu áp dụng. Họ bị đối tác nước ngoài yêu cầu, hoặc thấy được lợi ích chi phí khi dùng lại vật liệu.
Phần đông doanh nghiệp nhỏ thì chưa. Với họ, chi phí trước mắt vẫn là nỗi lo lớn hơn.
Một mảng khác đáng để ý là khu vực phi chính thức. Phần lớn ve chai, phế liệu ở nước mình vẫn đi qua mạng lưới thu gom nhỏ lẻ, từ người nhặt rác tới các vựa phế liệu và làng nghề tái chế. Họ làm tuần hoàn rất hiệu quả về mặt thu hồi, nhưng điều kiện lao động và xử lý ô nhiễm ở nhiều nơi còn rất kém.
Nối mạng lưới đó với hệ thống chính thức, để vừa giữ được sinh kế vừa giảm ô nhiễm, là bài toán mình nghĩ sẽ cần nhiều người làm môi trường, xã hội học và chính sách ngồi cùng nhau. Chưa có lời giải sẵn.
Nhu cầu nhân lực vì vậy tăng dần, không bùng nổ. Mình nghĩ nhìn như vậy là thực tế hơn những bài báo nói về làn sóng nghề xanh.
Hai điều mình muốn nhắc
Nhiều nghề xanh còn rất mới. Mô tả công việc chưa chuẩn hóa, cùng một chức danh mà hai công ty giao hai kiểu việc khác nhau. Đọc kỹ mô tả công việc trước khi nộp.
Đừng chạy theo thuật ngữ thời thượng. Cái nhãn “xanh” trên chức danh không quan trọng bằng kỹ năng thật bên dưới: biết phân tích vòng đời, biết quản lý một dòng chất thải, biết làm việc với nhà cung cấp.
Người nhặt ve chai ở bãi rác năm ấy không có chức danh gì cả. Nhưng họ hiểu giá trị của từng mẩu nhôm hơn nhiều người có bằng. Mình nghĩ người làm việc xanh cũng nên bắt đầu từ sự hiểu biết thực tế như vậy.
— Quốc Bảo